Như phần trước mình đã chia sẻ, Kiki nhà mình hoạt ngôn nhiều nhờ đọc sách ehon và xem tivi. Nói về chuyện xem tivi, thật ra giai đoạn đầu mình cũng rất có mặc cảm tội lỗi. Kiki nhà mình thích xem tivi từ hồi còn rất bé, chắc từ lúc vừa mới biết ngồi. Vào những lúc mình quá mệt mỏi, hoặc những lúc bất khả kháng (như trên tàu điện, xe bus), để giữ cho bạn nhỏ im lặng mình phải mượn đến sức mạnh của những "cái máy biết nói" này. Bạn nhỏ được ngồi xem tivi thì rất im lặng và ngoan ngoãn, nhưng lại làm cho mình day dứt khôn nguôi, tự hỏi mình có phải là bà mẹ quá lười, quá tệ hay không.
Mình tâm sự với chồng, bạn í nói rằng: "Nếu mẹ thấy mặc cảm tội lỗi thì thôi không cho xem tivi nữa. Còn nếu mẹ mệt quá không chăm được cho xem rồi thì thôi đừng nghĩ ngợi nữa". Câu trả lời của bạn í logic đến nỗi nghe xong mình ... giận chồng luôn.
Thế rồi mình ngồi vắt óc suy nghĩ nguyên nhân của cái cảm giác day dứt tội lỗi khi cho con xem tivi/điện thoại. Phải chăng do các lời khuyên từ những nhà giáo dục tâm lý chuyên đến không chuyên, những bà mẹ bỉm sữa đảm đang hình mẫu nghìn người follow trên mạng rang rảng bảo rằng cho trẻ dưới 2 tuổi tiếp xúc với tivi và các thiết bị điện tử là không tốt? Thế mặc cảm tội lỗi là do mình sợ bị đánh giá là một người mẹ không tốt à? Mình tự trả lời là không, việc mình bị/được đánh giá là bà mẹ xấu/tốt chẳng liên quan gì đến con mình cả, cái chính là con mình sẽ như thế nào nếu xem tivi/điện thoại sớm như thế. Và mình tìm hiểu nguyên nhân vì sao các nhà giáo dục bảo là không nên cho trẻ xem tivi sớm. Đó là vì khi xem tivi, trẻ sẽ dần quen với kiểu tiếp xúc một chiều, chỉ nghe liên tục mà không có phản xạ nói lại khiến lâu ngày trẻ sẽ bị thụ động giao tiếp, ít hoặc chậm nói.
Ok, fine. Chỉ cần không biến thành giao tiếp thụ động là được chứ gì. Thế là mình lên chiến lược cho bạn Kiki làm bạn với tivi như sau:
Trước đây mình chỉ bật tivi lên cho bạn í xem để rảnh tay đi làm việc khác, nhưng mình cố gắng dẹp hết để khi con ngồi xem mẹ cũng xem cùng. Và quan trọng là mẹ bắt đầu nói chuyện với con và nói chuyện với ... cái tivi cùng con. Nếu trên tivi xuất hiện chú thỏ, mình sẽ nói to: "A, chào chú thỏ. Chú đi đâu đấy?", trên tivi xuất hiện chú vịt mình sẽ nói: "Ô Kiki xem chú vịt dễ thương chưa kìa.", rồi chú vịt hay chú thỏ làm gì là mình đều nói to lên như là "chú thỏ đang đi dạo nè", "chú vịt đang bơi nè...". Trên tivi làm động tác gì là mình cũng làm động tác y hệt như ngồi, đứng, vỗ tay, ... Hồi đó hai mẹ con mình cùng xem chương trình dành cho trẻ con buổi sáng trên education channel (kênh 2) của Nhật, mình thấy nội dung rất hay và hợp với trẻ con, lại có nhiều tính sáng tạo khiến người lớn như mình xem cũng thấy thú vị. Mình xem tivi bằng tiếng Nhật nên để cho bạn í thống nhất ngôn ngữ với tivi, mình cũng nói chuyện bằng tiếng Nhật (nên giờ bạn í chủ yếu chỉ nói tiếng Nhật). Dạo gần đây bạn chỉ thích xem tiếng Anh nên mình bật youtube chương trình của Little Baby Bum cho bạn xem, mình cũng tranh thủ học lại tiếng Anh cơ bản luôn (giờ bạn í phát âm tiếng Anh còn chuẩn hơn cả mẹ nữa). Bạn Kiki được mẹ "huấn luyện" như thế quen dần, khi ở trường xem tivi cùng các bạn cũng hay đưa tay chỉ trỏ và nói to khi thấy các nhân vật yêu thích xuất hiện. Lúc nào mẹ đón em vào giờ xem tivi trên trường là chạy ào ra khoe mẹ có onechan, onichan hay obake trên tivi mẹ nè.
Sau khi bạn nhỏ quen với việc tương tác nói chuyện với tivi rồi thì nảy sinh vấn đề tiếp theo là làm sao để tắt tivi mà bạn nhỏ không khóc. Không biết các đứa trẻ khác thế nào chứ đối với bạn Kiki nhà mình tắt tivi là một vấn đề. Bạn í khóc lóc, giãy dụa, dỗ dành gì cũng không được khiến cho đôi lúc mình sợ quá không dám tắt luôn. Nhưng cứ cho con xem tivi lâu quá thì cái mặc cảm tội lỗi lúc trước lại được dịp trỗi dậy. Thế là mình lại vắt óc suy nghĩ, vạch ra chiến lược #2 như sau.
Trước khi bật tivi lên, mình giao ước với bạn í là chỉ xem 30 phút thôi nhé. Mình đưa ba ngón tay lên, lặp đi lặp lại đến lúc bạn í cũng giơ ba ngón tay lên rồi gật gật 30 phút mẹ nhé.
Thế nhưng, sau 30 phút (đôi khi là đến gần cả tiếng vì mình bận việc nên quên mất) đi tắt là bạn ấy giãy nảy lên như bị động kinh vậy (ôi em này mà ăn vạ cũng ghê lắm ạ). Mình hết hơi giải thích này nọ nhưng không hề xi-nhê gì, chỉ lên đồng hồ bạn cũng chẳng hiểu vì bạn có biết 30 phút với 1 tiếng là thế nào đâu. Thế là lại đổi cách thức, mình không giao ước theo thời gian nữa mà giao ước với từng việc cụ thể, như là "xem tivi đến lúc ăn cơm thôi nhé, đến giờ ăn là bạn tivi đi ngủ nhé", "xem tivi đến giờ tắm thôi nhé, lúc mẹ đi tắm là tắt tivi nha"... Xem ra cái này có hiệu quả với bạn nhỏ, những lần đầu bạn vẫn còn hơi khóc một tí nhưng giờ thì khi thấy mẹ bê đồ ăn ra là biết đến giờ bị tắt tivi rồi, không ăn vạ nữa.
Bạn Kiki rất rất rất yêu thích việc xem tivi, nên mình dùng đây làm điều kiện để trả treo bắt bạn í làm việc nhà (haha, mẹ thông minh quá). Bạn Kiki hay bày biện đồ chơi khắp nhà và không bao giờ dọn dẹp dù mẹ có nói nặng nói nhẹ cỡ nào, nhưng khi mình bảo dọn dẹp đồ chơi mới được xem tivi thì bạn răm rắp nghe theo cui cút đi dọn. Giờ bạn còn lên level bá đạo hơn ở chỗ dù không có đồ chơi bày bừa nhưng để được mẹ cho phép xem tivi thì tự đổ đống đồ chơi ra rồi ngay lập tức ... đem rổ đi dọn, vừa dọn vừa cố tính nói rất to để mẹ nghe: おもちゃを片付けたら、片付けたら、、、 ("dọn đồ chơi xong là, dọn đồ chơi xong là ...", để lửng câu chứ không nói hết đâu, như để mẹ tự hiểu í). Cái trò này lúc đầu mình nói ba bạn không tin, nghĩ sao mới nhỏ 2 tuổi mà đã biết bày mưu tính kế thế, đến khi nhìn tận mắt mới lắc đầu bái phục em: "Khôn như Kiki quê ba cũng hiếm đó" :)
Giờ thì bạn í quen với việc phải dọn dẹp đồ chơi sạch sẽ mới được xem tivi rồi, nên trước khi xin mẹ xem thì thấy cái gì bừa bãi là im lặng đi dọn, rồi lẳng lặng ôm em gấu bông (mỗi khi mẹ bận không xem tivi cùng được thì mẹ bảo Kiki xem tivi cùng em gấu Misa nhé), kéo chiếc ghế của mình ra sẵn trước tivi rồi đi tim điều khiển dúi vào tay mẹ. Thế là nhờ cái tivi nên tập được cho bạn í thói quen dọn đồ chơi trong nhà :)
Mình đã "tập" và "cho phép" bạn Kiki nhà mình làm bạn với tivi như thế đó. Giờ bạn í hoạt ngôn hẳn nhờ thuộc nhiều bài hát và từ ngữ, nên mình cũng thở phào nhẹ nhõm và cái cảm giác "mặc cảm tội lỗi" ngày nào cũng không còn nữa.
Mình tâm sự với chồng, bạn í nói rằng: "Nếu mẹ thấy mặc cảm tội lỗi thì thôi không cho xem tivi nữa. Còn nếu mẹ mệt quá không chăm được cho xem rồi thì thôi đừng nghĩ ngợi nữa". Câu trả lời của bạn í logic đến nỗi nghe xong mình ... giận chồng luôn.
Thế rồi mình ngồi vắt óc suy nghĩ nguyên nhân của cái cảm giác day dứt tội lỗi khi cho con xem tivi/điện thoại. Phải chăng do các lời khuyên từ những nhà giáo dục tâm lý chuyên đến không chuyên, những bà mẹ bỉm sữa đảm đang hình mẫu nghìn người follow trên mạng rang rảng bảo rằng cho trẻ dưới 2 tuổi tiếp xúc với tivi và các thiết bị điện tử là không tốt? Thế mặc cảm tội lỗi là do mình sợ bị đánh giá là một người mẹ không tốt à? Mình tự trả lời là không, việc mình bị/được đánh giá là bà mẹ xấu/tốt chẳng liên quan gì đến con mình cả, cái chính là con mình sẽ như thế nào nếu xem tivi/điện thoại sớm như thế. Và mình tìm hiểu nguyên nhân vì sao các nhà giáo dục bảo là không nên cho trẻ xem tivi sớm. Đó là vì khi xem tivi, trẻ sẽ dần quen với kiểu tiếp xúc một chiều, chỉ nghe liên tục mà không có phản xạ nói lại khiến lâu ngày trẻ sẽ bị thụ động giao tiếp, ít hoặc chậm nói.
Ok, fine. Chỉ cần không biến thành giao tiếp thụ động là được chứ gì. Thế là mình lên chiến lược cho bạn Kiki làm bạn với tivi như sau:
1. Mẹ cùng xem tivi với con.
Trước đây mình chỉ bật tivi lên cho bạn í xem để rảnh tay đi làm việc khác, nhưng mình cố gắng dẹp hết để khi con ngồi xem mẹ cũng xem cùng. Và quan trọng là mẹ bắt đầu nói chuyện với con và nói chuyện với ... cái tivi cùng con. Nếu trên tivi xuất hiện chú thỏ, mình sẽ nói to: "A, chào chú thỏ. Chú đi đâu đấy?", trên tivi xuất hiện chú vịt mình sẽ nói: "Ô Kiki xem chú vịt dễ thương chưa kìa.", rồi chú vịt hay chú thỏ làm gì là mình đều nói to lên như là "chú thỏ đang đi dạo nè", "chú vịt đang bơi nè...". Trên tivi làm động tác gì là mình cũng làm động tác y hệt như ngồi, đứng, vỗ tay, ... Hồi đó hai mẹ con mình cùng xem chương trình dành cho trẻ con buổi sáng trên education channel (kênh 2) của Nhật, mình thấy nội dung rất hay và hợp với trẻ con, lại có nhiều tính sáng tạo khiến người lớn như mình xem cũng thấy thú vị. Mình xem tivi bằng tiếng Nhật nên để cho bạn í thống nhất ngôn ngữ với tivi, mình cũng nói chuyện bằng tiếng Nhật (nên giờ bạn í chủ yếu chỉ nói tiếng Nhật). Dạo gần đây bạn chỉ thích xem tiếng Anh nên mình bật youtube chương trình của Little Baby Bum cho bạn xem, mình cũng tranh thủ học lại tiếng Anh cơ bản luôn (giờ bạn í phát âm tiếng Anh còn chuẩn hơn cả mẹ nữa). Bạn Kiki được mẹ "huấn luyện" như thế quen dần, khi ở trường xem tivi cùng các bạn cũng hay đưa tay chỉ trỏ và nói to khi thấy các nhân vật yêu thích xuất hiện. Lúc nào mẹ đón em vào giờ xem tivi trên trường là chạy ào ra khoe mẹ có onechan, onichan hay obake trên tivi mẹ nè.
Sau khi bạn nhỏ quen với việc tương tác nói chuyện với tivi rồi thì nảy sinh vấn đề tiếp theo là làm sao để tắt tivi mà bạn nhỏ không khóc. Không biết các đứa trẻ khác thế nào chứ đối với bạn Kiki nhà mình tắt tivi là một vấn đề. Bạn í khóc lóc, giãy dụa, dỗ dành gì cũng không được khiến cho đôi lúc mình sợ quá không dám tắt luôn. Nhưng cứ cho con xem tivi lâu quá thì cái mặc cảm tội lỗi lúc trước lại được dịp trỗi dậy. Thế là mình lại vắt óc suy nghĩ, vạch ra chiến lược #2 như sau.
2. Giao ước thời gian xem tivi.
Thế nhưng, sau 30 phút (đôi khi là đến gần cả tiếng vì mình bận việc nên quên mất) đi tắt là bạn ấy giãy nảy lên như bị động kinh vậy (ôi em này mà ăn vạ cũng ghê lắm ạ). Mình hết hơi giải thích này nọ nhưng không hề xi-nhê gì, chỉ lên đồng hồ bạn cũng chẳng hiểu vì bạn có biết 30 phút với 1 tiếng là thế nào đâu. Thế là lại đổi cách thức, mình không giao ước theo thời gian nữa mà giao ước với từng việc cụ thể, như là "xem tivi đến lúc ăn cơm thôi nhé, đến giờ ăn là bạn tivi đi ngủ nhé", "xem tivi đến giờ tắm thôi nhé, lúc mẹ đi tắm là tắt tivi nha"... Xem ra cái này có hiệu quả với bạn nhỏ, những lần đầu bạn vẫn còn hơi khóc một tí nhưng giờ thì khi thấy mẹ bê đồ ăn ra là biết đến giờ bị tắt tivi rồi, không ăn vạ nữa.
3. Ra điều kiện để được xe tivi.
Bạn Kiki rất rất rất yêu thích việc xem tivi, nên mình dùng đây làm điều kiện để trả treo bắt bạn í làm việc nhà (haha, mẹ thông minh quá). Bạn Kiki hay bày biện đồ chơi khắp nhà và không bao giờ dọn dẹp dù mẹ có nói nặng nói nhẹ cỡ nào, nhưng khi mình bảo dọn dẹp đồ chơi mới được xem tivi thì bạn răm rắp nghe theo cui cút đi dọn. Giờ bạn còn lên level bá đạo hơn ở chỗ dù không có đồ chơi bày bừa nhưng để được mẹ cho phép xem tivi thì tự đổ đống đồ chơi ra rồi ngay lập tức ... đem rổ đi dọn, vừa dọn vừa cố tính nói rất to để mẹ nghe: おもちゃを片付けたら、片付けたら、、、 ("dọn đồ chơi xong là, dọn đồ chơi xong là ...", để lửng câu chứ không nói hết đâu, như để mẹ tự hiểu í). Cái trò này lúc đầu mình nói ba bạn không tin, nghĩ sao mới nhỏ 2 tuổi mà đã biết bày mưu tính kế thế, đến khi nhìn tận mắt mới lắc đầu bái phục em: "Khôn như Kiki quê ba cũng hiếm đó" :)
Giờ thì bạn í quen với việc phải dọn dẹp đồ chơi sạch sẽ mới được xem tivi rồi, nên trước khi xin mẹ xem thì thấy cái gì bừa bãi là im lặng đi dọn, rồi lẳng lặng ôm em gấu bông (mỗi khi mẹ bận không xem tivi cùng được thì mẹ bảo Kiki xem tivi cùng em gấu Misa nhé), kéo chiếc ghế của mình ra sẵn trước tivi rồi đi tim điều khiển dúi vào tay mẹ. Thế là nhờ cái tivi nên tập được cho bạn í thói quen dọn đồ chơi trong nhà :)
Mình đã "tập" và "cho phép" bạn Kiki nhà mình làm bạn với tivi như thế đó. Giờ bạn í hoạt ngôn hẳn nhờ thuộc nhiều bài hát và từ ngữ, nên mình cũng thở phào nhẹ nhõm và cái cảm giác "mặc cảm tội lỗi" ngày nào cũng không còn nữa.
![]() |
| Bạn Kiki tay ôm gấu, mắt chăm chú xem tivi. |

Comments
Post a Comment