Trước khi có con, mình làm trong bộ phận R&D với vai trò là một nhà nghiên cứu (researcher). Đối với mình, công việc nghiên cứu khá căng thẳng và áp lực khá lớn (như phải ra công thức sản phẩm mới, bằng sáng chế, bài báo chuyên khoa, phát biểu hội nghị...). Hồi đó, tối nào khi về nhà mình cũng đem một đống tài liệu, khi thì các bài báo khoa học, khi thì kết quả thí nghiệm... để ngồi nghiền ngẫm cả đêm. Những ngày cuối tuần tuy được nghỉ ngơi về thể xác nhưng đầu óc lúc nào cũng vẩn vơ lo lắng cho kết quả thí nghiệm hay phương hướng nghiên cứu. Không biết có phải vì lý do đó hay không mà bộ phận R&D chỉ toàn chủ yếu là phái nam và một hai người nữ hoặc là độc thân hoặc là chưa có con.
Sau khi mình sinh đứa thứ nhất và trở lại làm việc, công việc của mình chuyển từ bộ phận R&D sang Technical Service. Mình đón nhận tin đó với một nửa tâm trạng thở phào nhẹ nhõm nhưng cũng với một nửa tâm trạng hụt hẫng. Thở phào nhẹ nhõm vì giờ công việc không còn áp lực và căng thẳng như trước nữa, nhưng hụt hẫng cũng vì sự lưu chuyển này như một “bước lùi” trong sự nghiệp của một người làm về kĩ thuật. Sếp của mình là một người rất từng trải và thấu hiểu, có thể sếp đã đọc được những do dự trong đầu mình khi nghe về vị trí và công việc mới nên ông đã trấn an mình rằng đây là vị trí rất thích hợp cho bà mẹ trẻ vừa nuôi con vừa đi làm, vì mình sẽ có thể chủ động được thời gian làm việc và tự điều chỉnh lượng công việc để đảm bảo cân bằng giữa công việc và gia đình. Hồi đó, với một cái đầu còn khá hiếu thắng và chí cầu tiến mạnh mẽ, mình đã không giấu nổi sự tự ti khi bị thuyên chuyển như vậy; nhưng bây giờ nghĩ lại mình biết sếp mình đã đúng khi sắp xếp mình vào vị trí hiện tại, và thầm cám ơn ông rất nhiều.
Lúc mới đi làm lại, mình đã không hình dung được việc vừa đi làm vừa nuôi con vất vả và căng thẳng thế nào. Chắc do khi được “giải thoát” khỏi những tháng ngày chỉ ở nhà chăm con, mình đã quá hồ hởi khi trở lại công việc mà chưa có sự chuẩn bị cho cơ thể, kể cả về mặt thể chất lẫn tinh thần, một cách kĩ càng. Mình đã nghĩ rằng mình vẫn có thể quay lại thời gian làm việc như trước lúc sinh con, tức là ở lại phòng thí nghiệm muộn đến lúc nào ra được kết quả mới thôi, hoặc là đem tài liệu về nhà đọc và nghiên cứu trước khi ngủ. Nhưng mình đã hoàn toàn sai lầm. Nếu trước đây mình chỉ chấp nhận rời công ty khi bụng reo cần ăn tối hoặc khi các thí nghiệm đã kết thúc, thì giờ đây dù muốn hay không mình cũng phải rời công ty để đến trường đón con đúng giờ quy định. Mỗi lần về như vậy, mình luôn nhét vào cặp một đống tài liệu nặng trịch và tự nhủ rằng để về nhà đọc thêm, nhưng sau rất rất nhiều lần mình đem về rồi lại đem đi nguyên si đống tài liệu đó, mình đã quyết định bỏ thói quen ôm việc về nhà. Trừ những hôm có họp vào buổi tối (audio meeting) ở nhà, sau khi sinh con thời gian của mình có thể dành cho công việc chỉ đúng 8h khi còn ở công sở. Vì vậy mình cũng học cách tự điều chỉnh lượng công việc để có thể hoàn thành tốt trong lượng thời gian đó mà thôi. Điều đó cũng chỉ ra cho mình thấy rằng việc quay trở lại làm công việc nghiên cứu ngày xưa, với tình trạng hiện giờ của mình, là một việc cực kì khó khăn và mình có thể bị đè bẹp hoàn toàn, theo cả nghĩa bóng và nghĩa đen, bởi áp lực của nó.
Mình bảo chưa có sự chuẩn bị tốt cho cơ thể cả về mặt thể chất vì đã không biết cơ thể người phụ nữ, sau khi mang thai, sinh con và nuôi con, đã thay đổi nhiều đến thế nào. Việc làm mình nhớ nhất đó là chuyến công tác đi nước ngoài đầu tiên sau 2 tháng nhận vị trí mới. Chuyến công tác chỉ 3 ngày từ thứ hai đến thứ tư. Dù chuyến bay quay trở về Nhật vào hôm thứ tư khá muộn nhưng mình vẫn đặt lịch đi làm vào sáng sớm hôm sau, cùng với việc lên lịch phát biểu chính trong một buổi họp quan trọng vào ngay hôm thứ năm đó. Việc đó chẳng có gì là to tát, nếu không nói là quá sức bình thường đối với mọi người; nhưng mọi thứ đã không xảy ra như bà mẹ trẻ dự định. Hai hôm liên tiếp trước khi đi công tác con mình lên cơn sốt và quấy suốt đêm nên mình hầu như mất ngủ hoàn toàn. Mình lên máy bay với một cơ thể mỏi mệt và cái đầu nặng trĩu, mong rằng đến nơi sẽ có thời gian nghỉ ngơi lấy lại sức để chiến đấu. Thế nhưng việc lạ nhà (dù ở khách sạn 5 sao), cộng thêm nỗi nhớ và lo lắng về bệnh tình của con làm mình không thể chợp mắt. Sáng thứ hai mình thức dậy với cái đầu ong ong và hai con mắt sưng húp, đỏ ngầu đến nỗi các bạn nhân viên bên nước bạn cũng thấy hoảng hốt. Lê lết qua được mấy ngày công tác để trở về Nhật thì tối hôm đó con vẫn quấy khóc và không ngủ thẳng giấc. Sáng thứ năm mình cắp cặp đi làm với những bước chân xiêu vẹo. Và khi mình tự nhận thức được sự nguy hiểm của tình trạng cơ thể - rằng mình có thể ngã quỵ bất cứ lúc nào ở công ty – mình đã chủ động đến nói với sếp rằng chắc mình không thể phát biểu hôm nay được, và rằng mình phải về nhà và cần nghỉ ngơi ngay lập tức. Ông không đợi mình van nài hay trình bày gì thêm, chỉ nhanh chóng bảo về nhà nghỉ ngơi và đừng lo nghĩ gì nữa. Mình nhớ ngay trước lúc đóng máy tính lại để về là màn hình máy tính sáng lên, hiển thị một e-mail gửi toàn công ty thông báo rằng cuộc họp (mà đáng ra mình sẽ đóng vai trò diễn thuyết chính) bị hoãn đột ngột do lý do sức khoẻ của mình. Thấy tên mình được viết đường hoàng và rõ to trên e-mail (được gửi từ manager đến tất cả mọi người trong công ty) – còn được đóng dấu “quan trọng”, mình thấy nhục nhã ê chề (như kiểu cái "tôi" bị tổn thương) và giận bản thân vô cùng. Mình giận bản thân mình vì đã không tự quản lý được sức khoẻ, làm xáo động kế hoạch của mọi người trong công ty. Qua lần đó, mình ý thức được rằng sẽ có những việc mình không dự đoán trước được như con ốm, con sốt, con quấy đêm đột nhiên (và kéo theo là mẹ cũng có thể ốm luôn); nên mình hoặc phải có kế hoạch dự trù cho những tình huống đó, hoặc là sắp xếp thời gian sao cho có thể ứng phó được trong trường hợp xấu nhất. Đó là những nguyên nhân gây ra những thiệt thòi cho các bà mẹ trẻ vừa đi làm vừa nuôi con, nhưng cũng là những lý do bất khả kháng.
Lúc mới đi làm lại, mình đã không hình dung được việc vừa đi làm vừa nuôi con vất vả và căng thẳng thế nào. Chắc do khi được “giải thoát” khỏi những tháng ngày chỉ ở nhà chăm con, mình đã quá hồ hởi khi trở lại công việc mà chưa có sự chuẩn bị cho cơ thể, kể cả về mặt thể chất lẫn tinh thần, một cách kĩ càng. Mình đã nghĩ rằng mình vẫn có thể quay lại thời gian làm việc như trước lúc sinh con, tức là ở lại phòng thí nghiệm muộn đến lúc nào ra được kết quả mới thôi, hoặc là đem tài liệu về nhà đọc và nghiên cứu trước khi ngủ. Nhưng mình đã hoàn toàn sai lầm. Nếu trước đây mình chỉ chấp nhận rời công ty khi bụng reo cần ăn tối hoặc khi các thí nghiệm đã kết thúc, thì giờ đây dù muốn hay không mình cũng phải rời công ty để đến trường đón con đúng giờ quy định. Mỗi lần về như vậy, mình luôn nhét vào cặp một đống tài liệu nặng trịch và tự nhủ rằng để về nhà đọc thêm, nhưng sau rất rất nhiều lần mình đem về rồi lại đem đi nguyên si đống tài liệu đó, mình đã quyết định bỏ thói quen ôm việc về nhà. Trừ những hôm có họp vào buổi tối (audio meeting) ở nhà, sau khi sinh con thời gian của mình có thể dành cho công việc chỉ đúng 8h khi còn ở công sở. Vì vậy mình cũng học cách tự điều chỉnh lượng công việc để có thể hoàn thành tốt trong lượng thời gian đó mà thôi. Điều đó cũng chỉ ra cho mình thấy rằng việc quay trở lại làm công việc nghiên cứu ngày xưa, với tình trạng hiện giờ của mình, là một việc cực kì khó khăn và mình có thể bị đè bẹp hoàn toàn, theo cả nghĩa bóng và nghĩa đen, bởi áp lực của nó.
Mình bảo chưa có sự chuẩn bị tốt cho cơ thể cả về mặt thể chất vì đã không biết cơ thể người phụ nữ, sau khi mang thai, sinh con và nuôi con, đã thay đổi nhiều đến thế nào. Việc làm mình nhớ nhất đó là chuyến công tác đi nước ngoài đầu tiên sau 2 tháng nhận vị trí mới. Chuyến công tác chỉ 3 ngày từ thứ hai đến thứ tư. Dù chuyến bay quay trở về Nhật vào hôm thứ tư khá muộn nhưng mình vẫn đặt lịch đi làm vào sáng sớm hôm sau, cùng với việc lên lịch phát biểu chính trong một buổi họp quan trọng vào ngay hôm thứ năm đó. Việc đó chẳng có gì là to tát, nếu không nói là quá sức bình thường đối với mọi người; nhưng mọi thứ đã không xảy ra như bà mẹ trẻ dự định. Hai hôm liên tiếp trước khi đi công tác con mình lên cơn sốt và quấy suốt đêm nên mình hầu như mất ngủ hoàn toàn. Mình lên máy bay với một cơ thể mỏi mệt và cái đầu nặng trĩu, mong rằng đến nơi sẽ có thời gian nghỉ ngơi lấy lại sức để chiến đấu. Thế nhưng việc lạ nhà (dù ở khách sạn 5 sao), cộng thêm nỗi nhớ và lo lắng về bệnh tình của con làm mình không thể chợp mắt. Sáng thứ hai mình thức dậy với cái đầu ong ong và hai con mắt sưng húp, đỏ ngầu đến nỗi các bạn nhân viên bên nước bạn cũng thấy hoảng hốt. Lê lết qua được mấy ngày công tác để trở về Nhật thì tối hôm đó con vẫn quấy khóc và không ngủ thẳng giấc. Sáng thứ năm mình cắp cặp đi làm với những bước chân xiêu vẹo. Và khi mình tự nhận thức được sự nguy hiểm của tình trạng cơ thể - rằng mình có thể ngã quỵ bất cứ lúc nào ở công ty – mình đã chủ động đến nói với sếp rằng chắc mình không thể phát biểu hôm nay được, và rằng mình phải về nhà và cần nghỉ ngơi ngay lập tức. Ông không đợi mình van nài hay trình bày gì thêm, chỉ nhanh chóng bảo về nhà nghỉ ngơi và đừng lo nghĩ gì nữa. Mình nhớ ngay trước lúc đóng máy tính lại để về là màn hình máy tính sáng lên, hiển thị một e-mail gửi toàn công ty thông báo rằng cuộc họp (mà đáng ra mình sẽ đóng vai trò diễn thuyết chính) bị hoãn đột ngột do lý do sức khoẻ của mình. Thấy tên mình được viết đường hoàng và rõ to trên e-mail (được gửi từ manager đến tất cả mọi người trong công ty) – còn được đóng dấu “quan trọng”, mình thấy nhục nhã ê chề (như kiểu cái "tôi" bị tổn thương) và giận bản thân vô cùng. Mình giận bản thân mình vì đã không tự quản lý được sức khoẻ, làm xáo động kế hoạch của mọi người trong công ty. Qua lần đó, mình ý thức được rằng sẽ có những việc mình không dự đoán trước được như con ốm, con sốt, con quấy đêm đột nhiên (và kéo theo là mẹ cũng có thể ốm luôn); nên mình hoặc phải có kế hoạch dự trù cho những tình huống đó, hoặc là sắp xếp thời gian sao cho có thể ứng phó được trong trường hợp xấu nhất. Đó là những nguyên nhân gây ra những thiệt thòi cho các bà mẹ trẻ vừa đi làm vừa nuôi con, nhưng cũng là những lý do bất khả kháng.
Những thay đổi trong công việc giữa trước và sau khi có con đó đã giúp mình nhận ra tầm quan trọng của việc đối mặt với những hạn chế, chấp nhận những thiệt thòi và khó khăn mà một người mẹ phải đối mặt khi vừa đi làm vừa nuôi con. Và mình ý thức được rằng do mình đang trong giai đoạn “khó khăn”, cho nên việc chấp nhận một “bước lùi” tạm thời trong công việc đôi lúc lại là một quyết định khôn ngoan và tốt cho tương lai dài của bản thân hơn.
Comments
Post a Comment